Bình vôi

Bình vôi là loại cây leo có rễ củ thuộc chi Stephania, họ Tiết dê Menispermaceae. Trước đây, tên bình vôi chỉ dùng cho một loài là Stepphania rotunda Lour. (Stephania glabra (Roxb) Miers), với những tên khác là củ một, củ gà ấp, dây mối trơn, cà tòm, cáy pầm (Tày), cọ cáy khẩu (Thái), tờ lừng dòi P’lòi (K’ho), stéphania (Pháp), moon-seed (Anh).
Trong thực vật chí tổng quát Đông Dương, Gagnepain công bố 4 loài Stephania có rễ củ, trong đó ở nước ta chỉ có 2 loài là S.pierrei Diels và S.rotunda Lour. Gần đây, Nguyễn Chiều (Viện dược liệu) đã bổ sung thêm 8 loài nữa có ở Việt Nam.
Đặc điểm chung của các loài bình vôi: Dây leo, thường xanh, gốc hóa gỗ, sống lâu năm. Thân nhẵn hơi xoắn vặn. Rễ củ đa dạng, có thể rất to, vỏ ngoài xù xì màu nâu – nâu đen. Lá mọc so le, cuống lá dài, đính vào trong phiến lá khoảng 1/3; phiến lá mỏng, gần hình tròn, có cạnh hoặc tam giác tròn, hai mặt nhẵn; gân lá xuất phát từ chỗ đỉnh của cuống lá, nổi rõ ở mặt dưới lá. Cụm hoa hình sim tán mọc ở kẽ lá hoặc ở những cành giả đã rụng lá, hoa đực và hoa cái khác gốc, hoa đực có 6 lá xếp thành 2 vòng, 3 cánh hoa màu vàng cam; nhị: 2-6, thường là 4; hoa cái có 1 lá dài, 2 cánh hoa; bầu hình trứng. Quả hạch, hơi dẹt, mọng nước màu đỏ hoặc da cam; hạt cứng, hình móng ngựa, hình trứng hoặc gần tròn mang 4 hàng vận dạng gai, hai mặt bên lõm ở giữa có lỗ thủng hoặc không. Mùa hoa: tháng 4-6; mùa quả: tháng 8-10.
Theo y học cổ truyền, củ bình vôi có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu ứ, chỉ thống.
Theo kinh nghiệm của nhân dân ta, bình vôi chữa mất ngủ, ho hen, kiết lỵ, sốt, đau bụng, dưới dạng củ thái nhỏ phơi khô sắc uống, tán bột, ngâm rượu, hoặc chè thuốc. Liều dùng: 3-6g. Thuốc ngâm rượu gồm bột bình vôi (1 phần) với rượu 400C (5 phần). Mỗi ngày uống 5-15ml, có thể thêm đường cho dễ uống.
L.tetrahydro – palmatin được dùng làm thuốc an thần, gây ngủ, điều trị một số trường hợp rối loạn tâm thần chức năng, trạng thái căng thẳng tinh thần, mất ngủ dai dẳng do nguyên nhân tâm thần.
Trung Quốc dùng dạng thuốc tiêm rotundin sunfat 3%, mỗi ống 2ml, làm thuốc giảm đau, an thần, gây ngủ trong điều trị loét dạ dày – hành tá tràng, đau dây thần kinh, đau bụng khi hành kinh, mất ngủ do lo âu, căng thẳng tinh thần, hen. Tiêm bắp thịt, mỗi lần một ống 2ml. Ngày 1-2 lần.
Trung Quốc còn dùng củ Stephania sinica Diets chữa đau dạ dày, đau thần kinh, đau răng, viêm dạ dày ruột, viêm họng, viêm đường hô hấp trên. Củ tươi giã nát đắp ngoài chữa mụn nhọt, vết thương. Còn củ stephania cepharantha Gay, thì dùng thuốc điều trị phong thấp, đau lưng, viêm thận phù, xuất huyết trong viêm dạ dày – ruột cấp tính, lỵ trực tràng và các loại viêm kèm sốt. Đối với nhọt sưng tấy, rắn độc cắn, dùng củ tươi giã đắp ngoài.
Khánh Linh – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 39 (747) – Năm thứ 36 – 1997

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *